Nghiêng mình trước lao động di trú, những người tha hương không thể thiếu của xã hội Đài Loan

  • 11 October, 2019
  • Thúy Anh
Năm 1992, chính phủ tuyên bố thực thi “Luật dịch vụ việc làm”, chính thức mở cửa đón nhận lao động di trú từ các nước đến làm việc, những lao động di trú này thông thường là người Đông Nam Á. (Ảnh do pv RTI chụp)

Năm nay, Đài Loan đã triển khai chính sách cho phép tuyển mộ lao động di trú vào làm việc trong ngành nông nghiệp, dự kiến cuối tháng 10 sẽ có đợt lao động di trú đầu tiên vào làm việc tại các nông trường đang thiếu nhân lực, ngoài ra, từ cuối tháng 9, đã có một bộ phận nông trường nhận thanh niên người Indonesia vào làm việc theo chính sách hợp tác giữa Đài Loan và Indonesia, giảm tải lượng công việc vào mùa thu hoạch.

Nhìn lại quãng thời gian 30 năm kể từ khi Đài Loan nhận đợt lao động di trú Đông Nam Á đầu tiên vào năm 1989, đến nay, số lao động di trú tại Đài Loan đã vượt mốc 710 nghìn người, trong những công trình lớn và những gia đình cần chăm sóc dài hạn đều có thể thấy được hình bóng của người lao động di trú, họ góp sức lao động của mình cho Đài Loan, và cũng góp phần giúp cho xã hội Đài Loan trở nên phong phú, đa dạng hơn.

Tháng 10 năm 1989, kinh tế Đài Loan phát triển vượt bậc, nhưng kèm theo đó là những vấn đề như thiếu hụt nhân lực, nhất là nguồn lao động phổ thông. Vì thế, nhằm xúc tiến xây dựng những công trình lớn, chính phủ Đài Loan đã lần đầu tiên mở chuyên án, đón nhận lao động di trú vào làm việc trong ngành chế tạo của Đài Loan. Sau đó, vào năm 1992, chính phủ tuyên bố thực thi “Luật dịch vụ việc làm”, chính thức mở cửa đón nhận lao động di trú từ các nước đến làm việc, những lao động di trú này thông thường là người Đông Nam Á, nam giới đa số làm việc trong công xưởng, công trình thi công, hay trên tàu đánh cá, còn nữ giới thì làm công việc chăm sóc hay giúp việc nhà tại các đơn vị hay gia đình.

Theo thống kê của Bộ Lao động cho thấy, cuối năm 2018, số lao động di trú tại Đài Loan đã vượt hơn 710 nghìn người, trong đó lao động làm việc trong các ngành nghề chế tạo và xây dựng đạt đến 450 nghìn người. Ngoài ra, theo thống kê, nhằm đáp ứng nhu cầu thi công xây dựng những công trình lớn, Đài Loan đã tuyển mộ 2289 lao động di trú xây dựng  đường tàu cao tốc, 1564 lao động di trú xây dựng đường hầm Tuyết Sơn, 1656 lao động di trú xây dựng Sân bay quốc tế Đào Viên, thế nhưng, sau khi những công trình này được hoàn tất, đại đa số lao động di trú không có duyên để được hưởng thành quả xây dựng này, mà phải về nước, thậm chí có một số người đã bị tai nạn lao động.

Lao động di trú đa số làm các công việc lao động chân tay, ngoài đường hầm Tuyết Sơn, còn có những công trình như tàu điện ngầm Cao Hùng, đường cao tốc Ngũ Dương, v.v., tất cả những công trình này đều từng xảy ra những tai nạn thương tâm của lao động di trú. Sự kiện sập cầu vượt biển ở Nam Phương Áo, huyện Nghi Lan vừa qua cũng đã cướp đi mạng sống của nhiều lao động di trú người Indonesia và Philippines.

Người dân Đài Loan vẫn còn rất nhiều ấn tượng rập khuôn và khoảng cách với lao động di trú, thế nhưng người lao động di trú vẫn luôn cố gắng để hòa nhập vào xã hội Đài Loan, và trên thực tế, xã hội Đài Loan cũng đã có nhiều sự thay đổi bởi sự tồn tại của lao động di trú, như giải văn học hay giải nhiếp ảnh dành riêng cho lao động di trú, trên những đường phố của Đài Loan cũng thấy được nhiều con đường mang đậm nét văn hóa ẩm thực quốc tế, những cửa hàng Đông Nam Á, khu mua sắm lao động di trú, và cả những lễ hội truyền thống như ngày Lễ hội té nước của Thái Lan, v.v.. 

Lao động di trú đã có mặt tại Đài Loan 30 năm, đã trở thành một nguồn lao động bổ sung không thể thiếu trong xã hội Đài Loan. Giáo sư tại khoa Phát triển quốc gia thuộc trường Đại học Quốc gia Đài Loan ông Tân Bính Long chỉ ra, người dân Đài Loan vốn lo lắng rằng du nhập lao động di trú vào Đài Loan sẽ làm giảm đi cơ hội việc làm cho người dân bản địa, nhưng nhiều năm qua, mặc dù số lượng lao động di trú không ngừng tăng lên, nhưng từ các số liệu vẫn không thấy được số lượng lao động di trú này gây ảnh hưởng gì lớn đến thị trường việc làm của bản địa.

Ông Tân Bính Long nói, hiện nay do xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của người dân Đài Loan đã có sự thay đổi, cộng theo kết cấu dân số già và tỉ lệ sinh con ít đã làm giảm đi đáng kể nguồn sức lao động của Đài Loan, chính phủ không nên tiếp tục dùng lối suy nghĩ ngăn chặn lao động di trú đến Đài Loan làm việc, mà nên phân bố nguồn sức lao động này một cách hợp lý, để giúp tạo ra thêm nhiều thị trường việc làm mới cho xã hội.

Mặc dù làm việc ở Đài Loan có thể sẽ gặp phải khó khăn, nguy hiểm, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, mà nhiều người lao động di trú vẫn bằng lòng đến nơi đất khách quê người để mưu sinh, và cũng có rất nhiều lao động di trú sau khi đến Đài Loan, đã học hỏi thêm được nhiều kỹ năng, quay trở về quê hương và tìm được công việc tốt hơn cho bản thân.

Thúy Anh

Phản hồi liên quan

Tin tứcmore